Translate

Hiển thị các bài đăng có nhãn Xã hội. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Xã hội. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 25 tháng 11, 2015

NGỌ BÁO (1)


XUẤT BẢN & ĐÌNH BẢN

Tháng 6 năm 1927 cụ Bùi Xuân Thành và con trai là ông Bùi Xuân Học, cho xuất bản tờ Hà Thành ngọ báo. Tòa báo đặt tại nhà số 24T Gia Long (còn được gọi là Hàng Giò (?) tức phố Bà Triệu ngày nay) xế xế đền Vũ Thạch bên kia đường.
B=bis tức 2, T=ter tức 3 : là cách xếp thứ tự số nhà khi có những nhà mang cùng một số trong một phố nào đó.
Khởi đầu nhật báo mang tên là Hà thành nhật báo sau mới rút gọn thành Ngọ báo.
Năm 1929, ông Hoàng Tích Chu (1897-1933) người đã sang Pháp học nghề viết báo, được  mời về làm chủ bút. Phần trình bày do ông Đỗ Vân, người cũng đi học nghề in báo ở Pháp về phụ trách, thực hiện với mục đích gây hấp dẫn, ấn tượng mạnh cho người đọc.
Hoàng Tích Chu đã cách tân tờ báo toàn diện về cả hình thức lẫn nội dung. Về nội dung, ông thực hiện một văn phong cô đọng, rút gọn tối đa câu chữ, rút ngắn toàn bộ những thể loại như tiểu phẩm, xã thuyết, thời luận, tránh hết sức lối văn biền ngẫu.
Ở trang nhất, cột 1 bao giờ cũng có một bài xã thuyết (xã luận) do chính chủ bút chịu trách nhiệm viết bàn về những vấn đề đang được dư luận quan tâm. Cột 2 đưa những tin sốt dẻo, cô đọng, được đặt tít giật gân cỡ lớn, kích thích trí tò mò của độc giả như "Thi gan với xe lửa bị húc vỡ bong bóng", "Một ông Tây chủ đồn điền bắn nhầm chết con ông Chánh Tổng"...
So sánh với báo ngày nay thấy sự phong phú không thua kém. Có chăng chỉ kém về số trang dành cho quảng cáo ít hơn bây giờ thôi.
Ngọ báo cũng tạo nhiều mục mới lạ do được nhiều văn sĩ, thi sĩ nổi tiếng tham gia. Báo lập ra những vị trí, phụ trương riêng khi có những mục quan trọng như : truyện đăng nhiều kỳ (feuilleton), Thể thao, Xi nê ma mà báo gọi là “Nghệ thuật thứ bảy”. Chính những mục đó lại được đông dảo người xem yêu thích , như bây giờ gọi là ‘câu view’. Thực ra xã hội cũng vẫn còn có những tin vặt vãnh không đáng kể nữa chứ ! Những mẩu tin đó trong nghề báo gọi là “tin chó chết, hay xe cán chó” chỉ đăng khi thiếu bài, lấp chỗ trống hoặc để dành cho mấy biên tập viên mới vào nghề, và đăng ở những trang hay cột không quan trọng.
Nhờ có feuilleton, không chỉ riêng của Ngọ báo, mà tôi được biết đến các chuyện kiếm hiệp cổ như Chinh Đông, Chinh Tây, Ngũ hổ bình Liêu v..v với các nhân vật Tiết Nhân Quí, Phàn Lê Hoa, Tiết Đinh Sơn ; các câu chuyện ly kỳ như Tiết Giao đoạt ngọc, Tiết Đinh Sơn (Quý ?) nhất bộ nhất bái đi mời Phàn Lê Hoa về giúp phá giặc, Hồ Nguyệt cô hóa cáo v.v…
Trong số các trang phụ trương, tôi thích nhất trang Nghệ thuật thứ bảy sẽ nói sau.
Các văn nghệ sĩ dã viết cho Ngọ báo có :
Văn  :
Thanh Châu
Phùng Tất Đắc
Phan Trần Chúc
Vũ Trọng Phụng
Thơ  :
J.Leiba (Lê Văn Bái)
Ngân Giang (nữ)
Thường các văn, thi sĩ đồng thời viết cho nhiều tờ báo chỉ trừ một số trường hợp đăc biệt như các ông Hoàng Tich Chu (chủ bút), Đỗ Vân (phụ trách in ấn) thì cộng tác lâu năm hơn. Nhưng đến năm 1929 thì hai ông H.T.Chu và Đỗ Vân cũng thôi không còn cộng tác với báo nữa.
Điều đáng sợ nhất cho nghề báo là bị kiểm duyệt.
Chế độ kiểm duyệt báo chí được áp dụng ít nhiều tùy vào văn hóa và chính thể ở mỗi nơi. Ở những nước Tây Âu vàBắc Mỹ thì mức độ kiểm duyệt gần như không có hoặc rất ít.  Tại VN chế độ kiểm duyệt có ngay từ thời thực dân Pháp bắt đầu ở nước ta. Kiểm duyệt không đáng kể hay gắt gao cũng tùy là thời bình hay thời chiến, việc đánh giá là vi phạm hành chính hay có yếu tố chính trị.
Ngoài việc phải làm hài lòng chính quyền Bảo hộ, báo chí thời đó còn phải tránh không có nội dung chỉ trích hay bất kính với giới sĩ lại và triều đình Huế vì sẽ bị ghép vào tội "phạm thượng" (lèse majeste). Vì vậy một tờ báo được phép lưu hành ở Nam Kỳ vẫn có thể bị cấm ở ngoài Trung hoặc Bắc Kỳ vì hai xứ này, ít ra trên danh nghĩa vẫn thuộc hoàng triều nhà Nguyễn.[1] Trường hợp báo Trung lập năm 1933 vì dám đăng một bài báo gọi vua Bảo Đại là "thằng Trời" liền có lệnh đình bản. Tờ Ngọ báo và Phong hóa năm 1936 cũng bị kỷ luật khi đăng bài châm biếm nạn tham quan.[3]   ([3]  theo Ho Tai, Hue-Tam. tr 286-7).
Một tờ báo bị kiểm duyệt có thể bị cắt xén đoạn ‘nhậy cảm’, hay hủy toàn bộ bài, gọi là ‘đục bỏ’ thậm chí cấm phát hành toàn bộ số báo đó. Cấm phát hành thì gọi là đình bản, thời gian đình bản cũng thay đổi ngắn tùy theo mức độ nhận định của cơ quan kiểm duyệt.
Tờ Ngọ báo bị đình bản năm 1936 như nói trên không rõ hạn định thời gian bao lâu tôi chưa tìm hiểu được.

Đăng bởi Mai Thế Trạch tháng 11/2015


Hoàng Tích Chu















Tài liệu tham khảo :
  1. Viết theo trí nhớ
  2. https://vi.wikipedia.org/w/index.php?search=ng%E1%BB%8D+b%C3%A1o&title=%C4%90%E1%BA%B7c_bi%E1%BB%87t%3AT%C3%ACm_ki%E1%BA%BFm&fulltext=1
  3. https://vi.wikipedia.org/wiki/Ki%E1%BB%83m_duy%E1%BB%87t_%E1%BB%9F_Vi%E1%BB%87t_Nam 




Thứ Năm, 11 tháng 6, 2015

Singapo năm 1922








8 giờ sáng ngày 17 Mars, tàu tới Singapore. Đáng lẽ tới từ 4 giờ đêm, vì tự Sài Gòn đến Singapore đi có hai ngày tròn, nhưng nghe đâu người Anh có lệ không cho tàu ngoại quốc xuất nhập đương đêm. Cho nên tàu đến trước cửa Singapore tự nửa đêm mà còn phải đậu ở ngoài xa, đến sáng rõ mới quay mũi vào bến.
Mặt trời mới mọc, trông vào bến Singapore, không cảnh gì đẹp bằng, như một bức tranh sơn thủy vậy. Lần này mới được trông thấy một nơi hải cảng là lần thứ nhất, thật là một cái cảnh tượng to tát. Cửa Hải Phòng, cửa Sài Gòn của ta kể cũng khá to, nhưng sánh với cửa Singapore này còn kém xa nhiều. Bến liền nhau với bể, chạy dài đến mấy nghìn thước, tàu đỗ không biết cơ man nào mà kể, tàu của khắp các nước đi tự Á Đông sang Ấn Độ và Âu Tây đều phải qua đấy.
Cửa Singapore này là đặt ở trên một cái đảo ở cuối bán đảo Malacca, ngay đầu eo bể Malacca, địa thế thật là tiện lợi cho đường buôn bán, và cũng tiện lợi cho sự quân bị. Người Anh ở Á Đông, phía trên giữ được cửa Hồng Kông (Hương Cảng), phía dưới giữ cửa Singapore, thật là chiếm được hai nơi then chốt ở cõi Á Đông này, địa thế hiểm yếu không đâu bằng. Mà hai nơi ấy trước kia là hai cái đảo nhỏ cùng tịch, bỏ hoang không ai đi đến bao giờ; nhất đán vào tay người Anh kinh doanh trong mấy chục năm, trở nên hai nơi hải cảng và thương phụ nhất nhì trong thế giới: cái nghị lực của giống người Anh cũng khả kinh vậy.
Bây giờ bao nhiêu tàu bể của các nước đi qua lại bên Á Đông này, tất phải do qua hai cửa Singapore và Hồng Kông; hai cửa ấy lại theo cái chế độ “tự do mậu dịch” của nước Anh, đồ hàng hoá các nước đem vào không phải thuế thương chánh, nên cái phong trào buôn bán thật là có vẻ phồn thịnh hơn các cửa bể khác nhiều.
Trước khi tàu ghé bến, phải đợi cho quan thầy thuốc Anh xuống khám xem hành khách có ai mắc bệnh truyền nhiễm không. Đến khi tới nơi, hành khách chưa được xuống vội, phải đợi cho quan cảnh sát lên khám giấy thông hành. Trong khi chiến tranh thì ai muốn xuống bến cũng phải trình giấy thông hành cả, nhưng bây giờ thì chỉ người nào đỗ hẳn ở Singapore mới phải trình giấy mà thôi; còn các hành khách khác xuống chơi vài ba bốn giờ rồi lại về tàu thời được tự do đi lại; lệ có khoan hơn trước nhiều.
Trên bến thấy mấy viên quan cảnh sát Anh và lính cảnh sát toàn là người Mã Lai và người Ấn Độ cả. Còn những phu chở hàng và mang đồ hành lý thì phần nhiều là người Tàu và người Mã Lai.
Vào đến trong phố thời nghiễm nhiên là một nơi đô hội của người Tàu, chẳng kém gì thành phố Chợ Lớn. Phố xá đông đúc, san sát những hiệu Khách cả, có mấy dãy phố toàn những nhà tửu lâu khách sạn, ngày đêm tấp nập những khách ăn chơi, người đi lại. Đi lại trong phố phường, có xe kéo và xe hơi, xe kéo người Khách kéo, xe hơi người Khách cầm máy. Đại để, công việc gì cũng là người Khách làm cả, từ bán cháo rong cho đến làm chủ hiệu, tựa hồ như người Anh mở mang đất này riêng cho người Tàu đến sinh lý, còn thổ dân là giống Mã Lai thời bị khu trục ra ngoài cái sinh hoạt giới tuyến vậy. Coi đó cũng đủ biết cái nghị lực của người Tàu, kể không kém gì người Anh vậy. Người Anh có cái tài sáng tạo kinh doanh, người Tàu có cái sức thừa hành lao động, người Anh là cái óc sắp đặt, người Tàu là cái tay làm lụng, hễ đâu có hai giống người ấy tất là nơi sinh hoạt phồn thịnh.
Singapore có thể chia ra hai phần: một phần là phố Khách, một phần là phố Tây; phố Tây cũng sầm uất bằng phố Khách mà lại có cái vẻ nguy nga hơn. Phố Tây ở Singapore này có khác phố Tây ở các nơi khác, nhất là khác các phố Tây của người Pháp ở, như trong các thành phố ta; người Pháp ở đâu thì những nhà lầu to lớn phần nhiều là các dinh thự công sở của Nhà nước; người Anh ở đâu thì những nhà lầu to lớn là các cửa hàng, các hội buôn, các công ty, các ngân hàng. Những hãng buôn của người Anh ở Singapore thật là những lâu đài vĩ đại, có khi chiếm từng dãy phố dài.
Ngoài các phố phường buôn bán, đến những nơi nhà ở riêng, làm theo lối “biệt thự” (villas) của người Anh, nhà xây ở chỗ đất cao, chung quanh vườn rộng, xe hơi chạy lùng khắp được. Những nhà ấy phần nhiều của người Anh, nhưng cũng có nhà của các chủ hiệu Khách lớn; ban ngày xuống phố làm việc, chiều tối về nhà riêng nghỉ.
Xe hơi ở Singapore, thật không biết cơ man nào mà kể, nào xe riêng, nào xe thuê, cả ngày chạy như mắc cửi. Vào đến Sài Gòn, thấy xe hơi chạy đường Catinat đã lấy làm nhiều, nhưng xe hơi ở Singapore lại còn nhiều hơn nữa, và ở Singapore đường phố nào cũng như đường Catinat hết thảy.
Ở trên tàu xuống, anh em đi dạo qua mấy phố gần bến, mỗi người đổi mấy đồng bạc Đông Pháp lấy tiền Singapoređể tiêu dùng cho dễ. Bạc Đông Pháp, nhất là bạc đồng, ở đây chuộng lắm; mỗi đồng bạc của ta, trừ tiền cáp còn được một đồng năm xu bạc Singapore; coi đó thời biết rằng bạc ta có giá trị, vì lệ thường đem tiền mình đi dùng ở xứ khác, chỉ có thiệt, không có lợi bao giờ.
Đi chơi vừa đến trưa, không trở về tàu ăn cơm, rủ nhau vào một hiệu cao lâu Khách, gọi là Shanghai Hôtel; cách bày biện tiếp đãi ở trong các cao lâu khách đây có ý lịch sự hơn các cao lâu ở Chợ Lớn nhiều. Khách trong cao lâu là người Quảng Đông cả; nhân trong bọn chúng tôi có quan tuần Vi thông tiếng Quảng Đông, nên nói năng giao thiệp cũng dễ. Người Khách không biết chúng tôi là người An Nam, vì trước khi xuống bến anh em đã nhất luật cải Âu phục cả. Họ hỏi có phải là khách Thượng Hải mới ở Mỹ về không. Chúng tôi cũng đáp rằng phải, và hiện nay đi du lịch sang nước Pháp. Coi đó thời biết rằng người Tàu hễ khác tỉnh thời không nhận biết được nhau nữa, vì ngôn ngữ bất đồng, người Quảng Đông với người Thượng Hải đối nhau cũng bớ ngớ như người khác nước vậy.
Người Khách ở Singapore chỉ có người Quảng Đông buôn bán to và người Phúc Kiến, Triều Châu làm các nghề nghiệp nhỏ; còn người Thượng Hải ít lắm; cho nên trong khi đi dạo chơi các phố Khách, người Khách nào cũng cho bọn chúng tôi là người Thượng Hải.
Ăn cơm xong, anh em thuê hai cái xe hơi để đi dạo quanh khắp tỉnh thành một lượt trước khi tàu chạy. Xe hơi chạy thuê ở đây nhiều và rẻ lắm: ở các đầu phố thường đỗ hàng chục cái, giá thuê giờ thứ nhất là ba đồng, giờ thứ nhì hai đồng, đi hai giờ thời chạy vòng quanh được thành phố Singapore một lượt, đi tự dưới bến, qua các phố Khách phố Tây, men các đồi cao su ở sau bến, vào xem vườn hoa, rồi lại quay về bến, vừa đúng ba giờ, xuống tàu nghỉ chơi một lúc thời tàu chạy.

Trích : Pháp du hành trình nhật ký (Phạm Quỳnh)

Thứ Sáu, 14 tháng 11, 2014

Tìm hiểu ba hiệu ấm trà Thế Đức, Lưu Bội và Mạnh Thần

 


  

Trong hai bài viết của Song Mộc về Ấm trà Tử Sa Nghi Hưng, có nhắc câu Thứ nhứt Thế Đức gan gà, thứ nhì Lưu Bội thứ ba Mạnh Thần. Từ đó đến nay, rất nhiều bạn đọc viết thư hỏi về 3 loại ấm Thế Đức, Lưu Bội và Mạnh Thần. Đây cũng là đề tài được trao đổi, bình luận nhiều trên mạng internet, liên quan đến những chiếc ấm đất hiệu đề tương tự đang còn được cất giữ trong các gia đình Việt Nam và cả những chiếc ấm đang bày bán trên thị trường. Để giúp bạn đọc rộng đường tìm hiểu, bài viết sau đây trích trong bản thảo Ấm trà Tử Sa Nghi Hưng của Song Mộc.


Ấm Mạnh Thần

   Đầu tiên cần xác định, đây không phải là thành ngữ điển tích của người Trung Hoa, mà là câu thiệu bằng thơ lục bát cho dễ nhớ của các cụ ta (V.N) ngày xưa, vì vậy “vai vế” thứ nhất, thứ nhì, thứ ba trong câu chỉ là tượng trưng, xếp theo vần điệu cho dễ nhớ chứ không phải thứ hạng.

   Lịch sử và xuất xứ của 3 loại ấm Thế Đức, Lưu Bội và Mạnh Thần

   A. Ấm Mạnh Thần

   Trong 3 hiệu Thế Đức, Lưu Bội và Mạnh Thần, ấm Mạnh Thần có niên đại lâu đời nhất, tác giả là Huệ Mạnh Thần ở Kinh Khê, Nghi Hưng, Giang Tô, không rõ năm sinh năm mất. Đại khái thời của ông là vào buổi cuối Minh đầu Thanh, khoảng từ đời Thiên Khải (1621-1627) vị vua áp chót của nhà Minh tới đời Khang Hy (1662-1722) nhà Thanh. Hiện nay tại Thính Tuyền Sơn Quán ở Trung Quốc còn giữ một ấm trà làm bằng đất sét trắng, lạc khoản (tên hiệu, niên hiệu đề dưới trôn đồ gốm sứ) ghi 11 chữ “Thiên Khải Đinh Mão niên Kinh Khê Huệ Mạnh Thần chế”, từ đó phần nào làm sáng tỏ đối với họ tên, nguyên quán và thời đại sinh sống của ông.


Ấm Tử Sa Mạnh Thần hiệu đề 6 chữ "Kinh Khê Huệ Mạnh Thần chế"

   Hai chữ Kinh Khê trong lạc khoản là chỉ nguyên quán, nguồn gốc như sau: Nghi Hưng thời xưa gọi là Kinh Ấp, đến năm Ung Chính thứ 3 đời Thanh, tách làm hai huyện Nghi Hưng và Kinh Khê, năm 1912 thời Dân quốc đã nhập hai huyện làm một huyện Nghi Hưng, Kinh Khê trở thành thị trấn. Năm 1983 Nghi Hưng thuộc thành phố Vô Tích, năm 1988 xóa bỏ huyện Nghi Hưng, thành lập thành phố Nghi Hưng (thành phố cấp huyện) đến nay.

   Tay nghề làm ấm Tử Sa của Huệ Mạnh Thần rất xuất chúng, mang đậm phong cách riêng, tác phẩm của ông ấm nhỏ nhiều, ấm cỡ trung bình ít, ấm lớn hiếm nhất. Ấm lớn thì kiểu dáng giãn dị mộc mạc, loại ấm nhỏ lại cực kỳ tinh xảo, tạo hình của ấm có dáng tròn, dáng dẹt, có thân cao, bụng tròn, hình trái lê hay trái quýt...

   Mỗi chiếc ấm Tử Sa do Huệ Mạnh Thần làm ra đều là một tác phẩm nghệ thuật, hình dáng thanh bai cân đối, đường nét uyển chuyển, thân ấm sáng bóng, cốt mỏng tinh xảo, nhất là phần vòi, dù dài hay ngắn đều rất chắc chắn, rót trà nước chảy thông, không nghẽn không đọng giọt. Những chiếc ấm nhỏ xinh xắn của ông rất thích hợp trào lưu uống trà công phu (kungfu) lúc bấy giờ, còn loại ấm hình trái lê thì được xuất khẩu sang nhiều nước châu Âu, có ảnh hưởng rất lớn đối với công nghệ làm ấm sứ thời kỳ đầu của châu Âu vào thế kỷ 17.

Ấm Mạnh Thần dáng trái lê xuất khẩu sang châu Âu thế kỷ 17

   Ngoài việc coi trọng sự tiện lợi cho người sử dụng và đề cao nét chất phác giản dị của thân ấm, ông còn đặc biệt quan tâm việc khắc chữ, viết thư pháp trên ấm. Những chiếc ấm do chính tay Huệ Mạnh Thần làm ra thường đề: “Kinh Khê Huệ Mạnh Thần chế”, “Văn Hạnh quán Mạnh Thần chế”, “Huệ Mạnh Thần chế” hoặc “Mạnh Thần chế”. Có một số ấm trên thân có đề năm chế tác hoặc những câu thư pháp nhiều hơn 10 chữ, nội dung mang ý nghĩa tốt lành. Thời kỳ đầu ấm của ông khắc chữ bằng dao tre, về sau mới kết hợp in bằng con dấu làm sẵn. Theo các nhà sưu tầm ấm Tử Sa có kinh nghiệm, sản phẩm tuyệt hảo nhất của Huệ Mạnh Thần là những chiếc ấm có đóng dấu “Vĩnh Lâm” phía trong nắp.

   B. Ấm Thế Đức

  Ấm Tích Bao là loại ấm trà xuất hiện vào những năm Gia Khánh và Đạo Quang đời Thanh (1796-1850), do những danh gia chế tạo ấm, sau đó được các văn nhân vẽ tranh, viết thư pháp, đề thơ. Ấm làm bằng đất Tử sa, thân bọc thiếc. Núm nắp, quai, vòi được tô điểm bằng cách khảm ngọc, chạm trỗ tinh vi, rất được giới văn nhân tao nhã yêu thích.

Ấm Tích Bao

   Chu Kiên (1772-1830) tự Thạch Mai, hiệu Thạch My, quê ở Thiệu Hưng, Chiết Giang, có sở trường giám định và am hiểu kỹ thuật vẽ tranh trên gốm sứ. Thời đó đang thịnh hành dùng hai loại ấm Tử Sa và Tích Bao để uống trà, Chu Kiên chính là người hợp nhất hai loại ấm này, ông mua những ấm trà của Dương Bành Niên về khảm ngọc lên quai, vòi, nắp và thân ấm, làm thành ấm “Tử Sa Tích Bao”. Ngoài Chu Kiên, thời đó có nhiều nghệ nhân Tử Sa khác cũng chế tác ấm Tích Bao cung cấp cho thị trường đang rất “nóng”, đặc biệt là Dương Bành Niên, hiện nay nhiều nhà sưu tập còn cất giữ những chiếc ấm Tích Bao rất quý của ông.


Ấm Tích Bao của Dương Bành Niên

Ấm Tích Bao của Chu Kiên hiệu đề "Thế Đức Đường"

   Ảnh trên là chiếc ấm Tích Bao cao 10,5cm, dạng hình học, nắp bằng, vòi thẳng, cốt làm bằng đất tử sa, bên ngoài bọc thiếc, vòi, quai, núm nắp ấm đều có khảm ngọc. Trên lớp thiếc bọc ngoài thân ấm một bên vẽ tranh sơn thủy, nhà cửa, cây cối, ghềnh đá, núi non chập trùng. Một bên có khắc chữ và dấu ấn, trải qua hàng trăm năm lớp thiếc bọc ấm bị ăn mòn, chỉ còn đọc được bốn chữ không liền mạch và không đủ câu: “Thạch Mai...Tuyền Hỏa...”, dưới đáy ấm có dấu lạc khoản hình vuông, khắc chữ “Thế Đức Đường”. Có thể khẳng định đây là chiếc ấm Tích Bao của Chu Kiên, làm cho Thế Đức Đường vào những năm Đạo Quang nhà Thanh.

Ấm Tích Bao

     Cái tên Thế Đức Đường bao hàm ý nghĩa đời đời công nhận đức hạnh của tổ tiên và gia tộc họ Tào ở thị trấn cổ Tô Châu, tòa nhà lớn này xây dựng vào đời Đạo Quang, hai mặt trước sau có 5 cổng lớn, tổng cộng 69 phòng ốc. Năm Quang Tự 32 đời Thanh (1906), tòa nhà được cải tạo, xây dựng lại, những bức tường bao quanh tòa nhà trở thành 6 cửa hiệu mặt tiền, phía trước là cửa hàng buôn bán sầm uất, phía sau là phố phường nhộn nhịp, bán đủ loại mặt hàng, nổi tiếng gần xa với sản phẩm rượu Bản Thiệu (Thiệu Hưng) và nước tương Bạch Nguyên. Về sau con cháu họ Tào tiếp tục phát triển ngành nghề kinh doanh, trong đó có cả mặt hàng gốm sứ, ấm Tử Sa, ấm Tích Bao... tuy không tự mình làm ra sản phẩm, nhưng họ đặt lò sản xuất rồi bao tiêu, vì vậy mà sản phẩm đề hiệu “Thế Đức” hay “Thế Đức Đường”.

Ấm Tích Bao (chữ "tích" nghĩa tiếng Việt là "thiếc")

   Vào những năm cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 loại ấm Tích Bao này được làm giả và xuất khẩu rất nhiều sang các nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Tới đây, chúng ta có một phát hiện thú vị: Tên gọi của loại ấm này là “Tích Bao hồ”, dịch sang tiếng Việt là “bình Tích Bao” (1), điều này giải thích vì sao người Việt, đặc biệt ở Nam bộ, gọi chung các loại ấm trà bằng cái tên rất phổ biến: “bình tích”, “ấm tích”.
______
(1) "Tích Bao hồ" dịch sát nghĩa là "bình bọc thiếc", Tích Bao là tiếng Hán Việt, cũng như người Việt gọi ấm Tử Sa chứ không gọi "ấm Cát tím".

   C. Ấm Lưu Bội
Lạc khoản "Thiệu Cảnh Nam chế"

   Thiệu Cảnh Nam (1796-1874) là một danh gia chế tác ấm Tử Sa dưới triều Đạo Quang, hiệu Lưu Bội chủ nhân, cùng thời với các nghệ nhân Tử Sa tên tuổi: Thiệu Đại Hanh, Huỳnh Ngọc Lân, Phùng Thể Hà, Thiệu Nhị Tuyền, Du Quốc Lượng...ông nổi tiếng làm ra chiếc ấm nhỏ gọi là Zhuni (Chu nê - bùn đỏ).

Ấm Zhuni Lưu Bội, dưới đáy khắc chữ "Thiệu Cảnh Nam ấn"

   Chiếc ấm Zhuni trong ảnh trên thân cao 6,8cm, chiều ngang đo từ quai đến miệng bình 12,2cm, đáy bằng phẳng, thân tròn. Nắp ấm hơi lồi, núm tròn, tương ứng với nắp và thân ấm. Vòi ấm hơi cong và hướng nhẹ lên trên, quai ấm có hình dáng như vành tai, nhằm tạo hiệu quả hài hòa về mặt thị giác cho người dùng, điều này chứng tỏ người làm ra chiếc ấm có ý tưởng sáng tạo rất tinh tế. Trên thân ấm, tác giả dùng dao tre khắc hai câu thơ “Hồ trung nhật nguyệt trường/ Sơn dung vô y dạng”, ý nói “Việc thưởng trà có thể quên cả thời gian và không gian”, bên cạnh ký Lưu Bội, dưới đáy ấm có khắc dấu “Thiệu Cảnh Nam ấn” bằng thể chữ Lệ thư.

Ấm Lưu Bội

Ấm Lưu Bội (giả cổ) làm riêng cho thị trường Việt Nam những năm đầu thế kỷ 20

   Từ tay nghề đến tạo hình chiếc ấm, hay cách tô điểm trên thân ấm, cho thấy đây là một chế phẩm thượng hạng. Ngoài ấm Zhuni, Thiệu Cảnh Nam còn làm một loại ấm tương tự, nhưng trên nắp ấm có thêm một đường viền tinh xảo, thân ấm cũng dùng dao tre khắc hai câu thơ “Kim ba sơ phiếm thể/ Ngọc vũ sạ sinh huy” (Mặt trăng vừa ló dạng, bầu trời liền ngời sáng), ký Lưu Bội, đáy ấm khắc dấu triện “Thiệu Cảnh Nam”. Cách thức tạo ấm và kiểu thư pháp của hai loại ấm này chính là phong cách đặc trưng của tác giả, có thể dùng làm căn cứ khi giám định ấm Lưu Bội thật và giả. 

SM 7.2009

link xem nguyên bản : http://www.songmoc.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=57:timhieu3hieuamtratheducluuboivamanh-than&catid=37:nghiencuu&Itemid=30